Đường dây nóng hỗ trợ   1900 54 54 81

Bưu điện Việt Nam đóng góp ý kiến hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế

Triển khai công văn số 1968-CV/ĐUK ngày 19/9/2019 của Đảng ủy Khối DNTW về tham gia Cuộc vận động “Doanh nhân, doanh nghiệp đóng góp ý kiến hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế”, ngày 15/11/2019, Đảng ủy Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đã có văn bản số CV/ĐU về việc tham gia đóng góp ý kiến hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế. Cổng thông tin điện tử Tổng công ty xin đăng tải toàn văn góp ý của Bưu điện Việt Nam.

1. Tóm tắt tình hình tổ chức và hoạt động của đơn vị

Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (Tổng công ty) được thành lập năm 2008 trên cơ sở kế thừa các hoạt động trong lĩnh vực bưu chính của Tập đoàn VNPT trước đây. Tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty TNHH do Bộ TTTT quyết định thành lập. Tổng công ty là doanh nghiệp nhà nước được chỉ định nhiệm vụ duy trì, quản lý mạng bưu chính công cộng, cung ứng các dịch vụ bưu chính công ích, dịch vụ công ích trong hoạt động phát hành báo chí và thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Tổng công ty có 67 đơn vị hạch toán phụ thuộc (gồm 63 Bưu điện tỉnh, thành phố, 4 công ty dọc), 5 công ty con, 04 công ty liên kết, cổ phần. Bộ máy quản lý của TCT gồm Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy tham mưu giúp việc. Tổng công ty có quy mô mạng lưới gồm gần 13.000 điểm phục vụ rộng khắp, trải dài đến tận xã, phường trên cả nước, 65 đường thư cấp 1 chuyên ngành và phụ trợ; trên 1000 tuyến đường thư cấp 2 và 87 đường thư quốc tế trao đổi chuyến thư với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Căn cứ Quyết định 674/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án thành lập Tổng công ty, triển khai Quyết định 65/2008/QĐ-TTg về dịch vụ bưu chính công ích, nhà nước thực hiện hỗ trợ cho việc cung ứng dịch vụ bưu chính công ích của Tổng công ty trong giai đoạn đầu sau khi chia tách nhưng theo 1 lộ trình giảm dần. Tổng công ty có nghĩa vụ phải đẩy mạnh kinh doanh để bù đắp cho hoạt động công ích, tiến tới có lãi trên bình diện tổng thể từ năm 2014 trở đi.

Để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, Tổng công ty đã tập trung dồn lực, đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức quản lý, điều hành, công tác tổ chức kinh doanh dịch vụ, phục vụ, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào hoạt động SXKD, đẩy nhanh tốc độ phát triển hạ tầng mạng lưới, tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao nhận thức, cách thức tổ chức kinh doanh cho đội ngũ lao động. Theo đó, hoạt động SXKD của Tổng công ty đã có những bước phát triển vượt bậc. Qua 06 năm hoạt động, từ 2008 đến hết 2014, Tổng công ty đã thực hiện đúng lộ trình giảm dần và chấm dứt trợ cấp công ích của nhà nước. Giai đoạn 2015-2018, hoạt động SXKD của TCT có sự tăng trưởng vượt bậc, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 30%.

2. Ý kiến tham gia góp ý hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế

- Đối với tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, phá giá trên thị trường bưu chính hiện nay

Trong 10 năm qua, với những nỗ lực không ngừng của từ đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đến toàn thể CBCNV, người lao động, hiệu quả hoạt động SXKD, quy mô, vị thế của Tổng công ty ngày càng được củng cố, mở rộng; thu nhập, tiền lương, điều kiện làm việc của người lao động ngày càng được cải thiện, nâng cao. Tuy nhiên, hiện nay, thị trường bưu chính chuyển phát có sự cạnh tranh dữ dội do có sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó có cả các doanh nghiệp vận tải.

Năm 2019, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đứng trước áp lực cạnh tranh, bị mất rất nhiều khách hàng lớn, đặc biệt là tại các thị trường trọng điểm do chính sách giảm giá (dưới mức giá thành) của các đối thủ cạnh tranh, trong đó, đáng chú ý là sự xuất hiện và chính sách cạnh tranh bất bình đẳng về giá của các doanh nghiệp công nghệ, có sự hỗ trợ nguồn vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài.

Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, trong điều kiện vừa đảm bảo cung ứng dịch vụ bưu chính công ích, vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh dịch vụ, nên đã xác định không chạy theo chính sách cạnh tranh về giá mà chủ trương cải tiến chất lượng, triển khai thêm dịch vụ giá trị gia tăng, tăng cường tiện ích cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ để cạnh tranh, giữ khách hàng.

Trước tình hình thực tế đó, Tổng công ty đề xuất kiến nghị với Chính phủ, các Bộ ngành liên quan có chính sách, biện pháp quản lý thị trường bưu chính, tăng cường công tác kiểm soát thị trường, đảm bảo thực thi pháp luật về dịch vụ bưu chính dành riêng, chống bán phá giá, cạnh tranh không lành mạnh, giảm giá dưới mức giá thành của các doanh nghiệp bưu chính như hiện nay.

- Đối với việc thoái vốn ngoài ngành nghề kinh doanh chính của Tổng công ty:

Theo quyết định 1878/QĐ-BTTTT ngày 11/12/2014 của Bộ TTTT, Tổng công ty phải thực hiện thoái vốn tại 7 doanh nghiệp. Trong giai đoạn từ 2015 đến nay, Tổng công ty đã hoàn thành thoái vốn toàn bộ tại 5/7 doanh nghiệp, thoái vốn 1 phần tại 1/7 doanh nghiệp là VNPT Technology với số tiền thu về đạt 46.495 triệu đồng, gấp 1,1 lần so với số vốn đã đầu tư.  Hiện Tổng công ty đang thực hiện các thủ tục để thực hiện chuyển nhượng vốn góp của TCT tại Công ty Cổ phần VNPT Technology.        

Tổng công ty chưa hoàn thành việc thoái vốn tại 01 đơn vị là Công ty Cổ phần Du lịch Bưu điện. Nguyên nhân chưa thoái vốn được: Trong quá trình thực hiện thủ tục chào bán lần 3, Tổng công ty gặp vướng mắc theo quy định của Nghị định 32/2018/NĐ-CP (có hiệu lực từ 1/5/2018) đối với việc xác định giá trị doanh nghiệp thời điểm 31/03/2018: Tổng công ty chưa hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở nhà đất của Công ty cổ phần Du lịch Bưu điện theo Quyết định 09 (đây là vướng mắc của các doanh nghiệp nhà nước nói chung trong sắp xếp đất đai) do đó chưa có cơ sở để ước tính giá trị lợi thế được tạo ra bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm trong  giá trị doanh nghiệp Công ty Cổ phần Du lịch Bưu Điện, ảnh hưởng đến cơ sở xác định giá chuyển nhượng của Tổng công ty. 

Tổng công ty đề xuất kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông có hướng dẫn cụ thể đối với các doanh nghiệp đang bị vướng mắc trong quá trình thoái vốn bởi quy định của Nghị định 32/2018/NĐ-CP.